logo2

tencty

slide1 slide2 slide3 slide4 slide5

Những Chiến Lược Cấp Độ Kinh Doanh _ Business-Level Strategies

Các loại chiến lược cấp độ kinh doanh - Types of Business-Level Strategies:

Các công ty lựa chọn trong số năm chiến lược cấp độ kinh doanh để thiết lập và bảo vệ vị trí chiến lược mong muốn của họ chống lại các đối thủ cạnh tranh: dẫn đầu chi phí, khác biệt, dẫn đầu chi phí tập trung, khác biệt tập trung, và tích hợp dẫn đầu chi phí và khác biệt (xem Hình).

 Business strategy

Firms choose from among five business-level strategies to establish and defend their desired strategic position against competitors: cost leadership, differentiation, focused cost leadership, focused differentiation, and integrated cost leadership/differentiation (see Figure).

Mỗi chiến lược cấp độ kinh doanh giúp các công ty xây dựng và khai thác lợi thế cạnh tranh đặc biệt trong một phạm vi cạnh tranh cụ thể. Làm thế nào các công ty tích hợp các hoạt động họ thực hiện trong từng chiến lược cấp độ kinh doanh khác nhau chứng tỏ cách họ khác nhau. Tích hợp các hoạt động tốt hơn làm tăng khả năng có thể để đạt được một lợi thế vượt qua những đối thủ cạnh tranh và giành được/kiếmđược lợi nhuận trên mức trung bình.

Each business-level strategy helps the firm to establish and exploit a particular competitive advantage within a particular competitive scope. How firms integrate the activities they perform within each different business-level strategy demonstrates how they differ from one another. Superior integration of activities increases the likelihood of being able to gain an advantage over competitors and to earn above-average returns.

Khi lựa chọn một chiến lược cấp độ kinh doanh, các công ty đánh giá hai loại lợi thế cạnh tranh tiềm năng: "chi phí thấp hơn so với các đối thủ, hoặc khả năng khác biệt và quyền kiểm soát một mức giá cao vượt quá chi phí cộng thêm của làm như vậy." Việc có chi phí thấp hơn xuất phát từ/bắt nguồn từ khả năng của công ty thực hiện các hoạt động khác biệt so với các đối thủ; có khả năng phân biệt chỉ ra/cho thấy năng lực của công ty để thực hiện các hoạt động khác nhau (và có giá trị). Như vậy, dựa vào tính chất và chất lượng nguồn lực, khả năng nội bộ và năng lực cốt lõi của của nó, một công ty tìm cách hình thành hoặc là một lợi thế cạnh tranh chi phí hoặc lợi thế cạnh tranh độc đáo làm cơ sở cho việc thực hiện chiến lược cấp độ kinh doanh của nó.

When selecting a business-level strategy, firms evaluate two types of potential competitive advantages: “lower cost than rivals, or the ability to differentiate and command a premium price that exceeds the extra cost of doing so.” Having lower cost derives from the firm’s ability to perform activities differently than rivals; being able to differentiate indicates the firm’s capacity to perform different (and valuable) activities. Thus, based on the nature and quality of its internal resources, capabilities, and core competencies, a firm seeks to form either a cost competitive advantage or a uniqueness competitive advantage as the basis for implementing its business-level strategy.

Hai loại phạm vi cạnh tranh là mục tiêu trên diện rộng và mục tiêu trên diện hẹp (xem Hình). Các công ty phục vụ một thị trường mục tiêu rộng lớn tìm cách sử dụng lợi thế cạnh tranh của họ trên cơ sở toàn ngành công nghiệp. Một phạm vi cạnh tranh hẹp có nghĩa là các công ty có ý định để phục vụ nhu cầu của một nhóm khách hàng mục tiêu hẹp. Với các chiến lược tập trung, các công ty "chọn một phân khúc hay nhóm các phân khúc trong ngành công nghiệp và điều chỉnh chiến lược của mình để phục vụ cho họ để loại trừ những người khác." Người mua có nhu cầu đặc biệt và người mua sống ở nhửng vúng miền/khu vực địa lý đồ cụ thể là những ví dụ về các nhóm khách hàng mục tiêu hẹp. Như thể hiện trong hình, một công ty cũng có thể phấn đấu để phát triển một sự kết hợp lợi thế cạnh tranh về chi phí và sự độc đáo như là nền tảng cho sự phục vụ một nhóm khách hàng mục tiêu có nghĩa là lớn hơn một phân khúc hẹp nhưng không phải là toàn diện như là một nhóm khách hang trên diện rộng (hoặc toàn ngành công nghiệp). Trong trường hợp này, các công ty sử dụng tích hợp chiến lược dẫn đầu chi phí và chiến lược khác biệt.

Two types of competitive scopes are broad target and narrow target (see Figure). Firms serving a broad target market seek to use their competitive advantage on an industry-wide basis. A narrow competitive scope means that the firm intends to serve the needs of a narrow target customer group. With focus strategies, the firm “selects a segment or group of segments in the industry and tailors its strategy to serving them to the exclusion of others.” Buyers with special needs and buyers located in specific geographic regions are examples of narrow target customer groups. As shown in Figure, a firm could also strive to develop a combined cost/uniqueness competitive advantage as the foundation for serving a target customer group that is larger than a narrow segment but not as comprehensive as a broad (or industry-wide) customer group. In this instance, the firm uses the integrated cost leadership/differentiation strategy.

Không chiến lược nào trong số năm chiến lược cấp độ kinh doanhđược thể hiện trong hình là vốn đã vượt trội hoặc phổ biến so với những chiến lược khác. Hiệu quả của mỗi chiến lược là phụ thuộc vào cả về cơ hội và các mối đe dọa trong môi trường bên ngoài của một công ty và vào những điểm mạnh và điểm yếu bắt nguồn từ danh mục đầu tư nguồn lực của công ty. Nó là rất quan trọng, do đó, đối với các công ty lựa chọn một chiến lược cấp độ kinh doanh đó là dựa trên một sự kết hợp/sự phù hợp giữa các cơ hội và các mối đe dọa trong môi trường bên ngoài của nó và những thế mạnh của tổ chức nội bộ của nó được thể hiện bằng năng lực cốt lõi của nó. Và, một khi các công ty lựa chọn chiến lược của mình, nó sẽ luôn nhấn mạnh các hành động được yêu cầu phải sử dụng thành công chiến lược. Nhấn mạnh liên tục của Wal-Mart vào việc làm cho chi phí của nó thấp hơn được cho là một chìa khóa đối với chiến lược dẫn đầu chi phí hiệu quả của công ty.

None of the five business-level strategies shown in Figure is inherently or universally superior to the others. The effectiveness of each strategy is contingent both on the opportunities and threats in a firm’s external environment and on the strengths and weaknesses derived from the firm’s resource portfolio. It is critical, therefore, for the firm to select a business-level strategy that is based on a match between the opportunities and threats in its external environment and the strengths of its internal organization as shown by its core competencies. And, once the firm chooses its strategy, it should consistently emphasize actions that are required to successfully use it. Wal-Mart’s continuous emphasis on driving its costs lower is thought to be a key to the firm’s effective cost leadership strategy.

Đỗ Quý Hội

PhD in Business Administration

Chương trình đào tạo

slide1 slide2

Hình ảnh hoạt động

slide2

Maps

Thống kê truy cập

113659
Hôm nay
Hôm qua
This Week
Last Week
This Month
Last Month
All days
91
141
410
92432
1795
6169
94129

Your IP: 34.200.222.93
Server Time: 2020-08-11 03:54:10

Copyright © 2017 Công ty TNHH Tư vấn Quản lý CATS

Địa chỉ 277/6B (số cũ 277/6/2) Trường Chinh, Phường 14, Quận Tân Bình, TP. HCM

Điện thoại: 0886.432.126 - Email: doquyhoi@cats-co.com

Hotline:      0916.432.126 - Email: quyhoidoanhthu@gmail.com